Trong các bài trước của loạt bài “Thiên tai vượt ngưỡng lịch sử - cần thay đổi kịch bản ứng phó”, nhóm phóng viên VOV miền Trung đã đề cập hình thái thiên tai vừa qua đã xô đổ mọi kịch bản ứng phó và vượt quá khả năng chống chịu của vùng xung yếu. Theo đó, đã đến lúc cần xác định tâm thế mới đối với thiên tai.

Hơn 1 tháng qua, trên địa bàn Trung, lượng mưa ở mức đặc biệt lớn, đều vượt các kỷ lục lịch sử từng ghi nhận. Tại một số trạm như: Sơn Thành Tây, Sơn Thành Đông, Hòa Mỹ Tây, Sông Hinh (Đắk Lắk) ghi nhận lượng mưa 1.000-1.200mm chỉ trong vài ngày. Hầu hết, các thủy điện phải vận hành xả lũ. Đặc biệt, lần đầu tiên, Thủy điện Sông Ba Hạ xả lũ lưu lượng 16.100 m3/s, cao nhất từ trước đến nay.

Dư luận đang đặt ra câu hỏi: Khi thủy điện xả lũ, người dân có được thông báo hay không?

Ông Ninh Văn Hòa, trú tại xã Hòa Thịnh, tỉnh Đắk Lắk (thuộc huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên cũ) cho biết, ông và nhiều hộ dân không hề nhận được bất kỳ thông báo nào về việc xả lũ. “Người dân xung quanh ai cũng nói là thủy điện xả lũ, chứ không thì nước làm sao dâng nhanh như vậy. Chúng tôi không nghe thông báo xả lũ. Nếu bà con biết trước giờ nào xả thì đã kịp di dời. Nước ngập tới nóc nhà, không còn chỗ nào tránh được. Nước lên khỏi nóc thì chỉ có chết thôi”.

Câu chuyện thủy điện xả lũ “đúng quy trình” đã từng làm nóng dư luận trong nhiều năm qua. Các địa phương thấy cần thiết phải xây dựng lại quy trình vận hành liên hồ chứa. Mục tiêu để cắt, giảm bớt lũ cho hạ du và khắc phục những bất cập trong điều kiện các hồ thủy điện ít dung tích phòng lũ.

GS.TS Vũ Trọng Hồng, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng, những thủy điện lớn như Hòa Bình, Sông Đà điều tiết lũ rất tốt, không phải lo lắng. Ở miền Trung, trên một hệ thống sông làm nhiều thủy điện nhỏ, rất khó quản lý. Chủ hồ có tâm lý cố giữ nước trong hồ đến phút chót rồi mới xả, như thế là rất nguy hiểm.

“Trên một sông có nhiều thủy điện. Khi lũ về thường là phải truyền tin cho nhau để thủy điện ở dưới phải mở xả trước. Thế nhưng, trong thực tế rất khó, bởi vì thủy điện nhỏ rất nhiều chủ. Họ bao giờ cũng cố giữ nước đến phút chót. Khi không giữ nổi thì xả. Thực ra là họ không chịu xả. Khi đến phút chót thì tất cả đều phải mở ra vì sợ vỡ đập”, GS.TS Vũ Trọng Hồng cho hay. 

TS Nguyễn Ngọc Chu khẳng định: "Ngập úng nghiêm trọng thời gian qua ở miền Trung bắt nguồn từ thiên tai bất thường; ngoài ra còn do hệ quả từ con người gây ra. Khả năng ứng phó của chúng ta rất kém".


Trong bối cảnh “sống chung với thiên tai”, cần nhanh chóng thay đổi kịch bản ứng phó, khẩn cấp thích ứng. Trước hết, cần sửa đổi quy trình và các quy định của pháp luật về phòng tránh thiên tai. Mới đây, Bộ Nông nghiệp và Môi trường có công văn gửi các địa phương lấy ý kiến về dự thảo Quyết định sửa đổi, bổ sung một số điều của các quy trình vận hành liên hồ trên các lưu vực sông Hương, Vu Gia - Thu Bồn, Trà Khúc, Côn, Hà Thanh và sông Ba.

Nhiều ý kiến cho rằng, trước đây, việc xây dựng quy trình vận hành liên hồ giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) còn các địa phương, bộ ngành liên quan, đơn vị tư vấn chỉ tham gia ý kiến đóng góp nên không sát thực tiễn. Vì thế, có ý kiến đề nghị nên giao các địa phương chịu tác động trực tiếp từ bão lũ chủ trì việc xây dựng quy trình vận hành, lấy ý kiến rộng rãi, sau đó trình Bộ Nông nghiệp và Môi trường thẩm định và Bộ này trình Chính phủ ban hành.

Tiến sỹ Đào Trọng Tứ, Trưởng Ban điều hành mạng lưới sông ngòi Việt Nam cho rằng, hiện nay, quy trình vận hành của liên hồ được xây dựng trên cơ sở lấy một hình mẫu của một trận lũ lịch sử nào đấy. Tuy nhiên, trên thực tế xảy ra khác với lý thuyết. Nếu vận hành không phù hợp với thực tế xảy ra thì có thể gây tác động tiêu cực, tăng thêm lũ hạ lưu.

Tiến sĩ Đào Trọng Tứ đề xuất: “Cần có một bộ phận quản lý đủ thẩm quyền để trực tiếp điều hành quy trình vận hành liên hồ trong điều kiện cụ thể của từng đợt lũ, chứ không chỉ áp dụng theo lý thuyết. Chỉ như vậy mới giảm được thiệt hại cho vùng hạ lưu. Nếu cứ máy móc tuân theo quy trình cũ, rất có thể sẽ không phù hợp và dẫn đến những tác động tiêu cực”.

Quy trình vận hành liên hồ chỉ là bộ khung, quan trọng nhất vẫn là khâu điều hành vận hành xả lũ trong thực tiễn, theo thời gian thực. Hiện nay, nhiều hồ chứa thủy điện không lắp đặt thiết bị đo mưa để đo lưu lượng nước về hồ hoặc có lắp đặt nhưng không đủ, lắp đặt thiết bị còn mang tính đối phó. Đo được lưu lượng nước về hồ là thông số rất quan trọng để làm căn cứ quyết định điều tiết xả lũ sớm, tránh gây ngập đột ngột cho hạ lưu.

Vì vậy, trong quy trình vận hành mới cần yêu cầu các chủ hồ thủy điện phải lắp đặt đủ thiết bị đo mưa tại hồ, các chủ hồ thủy điện phải tăng tính giải trình. Khi vận hành xả lũ, nếu có ý kiến, các chủ hồ phải chứng minh bằng các số liệu, thông số kỹ thuật, công khai minh bạch để nhân dân biết.

TS. Lê Hùng, Giảng viên Khoa Xây dựng công trình thủy, Trường Đại học Bách Khoa Đà Nẵng cho rằng, chúng ta đang thiếu “nhạc trưởng” để điều hành việc vận hành xả lũ tại các hồ thủy điện. Theo ông Hùng, công tác điều hành vận hành hồ chứa thủy điện tại thành phố Đà Nẵng và các tỉnh miền Trung trong các đợt lũ vừa qua còn rất lúng túng. Vai trò cơ quan tham mưu cho lãnh đạo tỉnh, thành phố khá mờ nhạt. Trong giai đoạn lũ đạt đỉnh, khi người dân cần biết thời điểm đạt đỉnh chưa và diễn biến tiếp theo nhưng không được thông tin đầy đủ. 

Theo TS. Lê Hùng, các địa phương cần có bộ phận tham mưu giỏi về thủy văn, thủy lực để tư vấn cho lãnh đạo tỉnh, thành phố kịp thời đưa ra quyết định điều hành xả lũ: “Hiện nay, đa số địa phương để các hồ tự vận hành, nên xảy ra trường hợp rất tréo ngoe là thủy điện trên cùng lưu vực sông nhưng hồ này cắt lũ, còn hồ kia xả đón lũ. Vì vậy, việc điều phối xả lũ phải do Ban Chỉ huy phòng thủ dân sự điều phối để cắt hay đón lũ phải hài hòa. Hiện nay, dự báo 6 giờ/lần, công tác ra quyết định vận hành cũng phải linh hoạt theo dự báo chứ không thể cứng nhắc”.

Công tác dự báo, cảnh báo lũ hiện còn nhiều bất cập. Đã đến lúc phải đặt hệ thống cảnh báo xả lũ bằng còi hú tại mỗi khu dân cư vùng ngập lụt hoặc bắn pháo hiệu báo xả lũ khi khẩn cấp; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng các phần mềm cảnh báo xả lũ cài đặt trên điện thoại thông minh. Các địa phương cũng nên rà soát và tính toán lại việc xây dựng các nhà tránh lũ tập trung kiên cố, thích ứng với các hình thái thiên tai cực đoan tại vùng ngập sâu, chảy xiết, phương tiện khó tiếp cận.

Tại đây, chuẩn bị sẵn kho dự trữ lương thực, điểm tiếp tế lương thực, thậm chí có bãi đáp trực thăng, trạm phát sóng, cấp điện, đảm bảo vượt lũ để duy trì thông tin liên lạc. Điều chỉnh quy hoạch và tạo hành lang thoát lũ, nhất là hành lang 2 bên các lưu vực sông cũng là giải pháp cấp bách trong việc thay đổi kịch bản ứng phó thiên tai dị thường.

Ông Bhing Mia, Bí thư Đảng ủy xã Tây Giang, thành phố Đà Nẵng (thuộc huyện miền núi Tây Giang, tỉnh Quảng Nam cũ) cho rằng, hiện trạng các vùng dễ bị tổn thương do hình thái thiên tai cực đoan đã có nhiều thay đổi, cần cập nhật lại bản đồ ngập lụt, sạt lở đất. Bản đồ này phải được cập nhật thường xuyên hàng năm, sau mỗi đợt thiên tai, thậm chí sau mỗi cơn bão lũ.

Theo ông Bhing Mia, quy định hiện nay về việc ban bố thiên tai theo từng cấp độ cần được xem xét lại. “Thiên tai đợt này không còn rõ ràng cấp độ một hay cấp độ hai, mà có sự lẫn lộn. Có nơi sạt lở nặng nhưng không bị cô lập dài ngày, ngược lại, có nơi khối lượng sạt lở ít nhưng lại bị cô lập lâu. Có khu vực mưa lớn, nơi khác lại ngập lụt. Vì vậy, chúng ta phải thích ứng với nhiều loại hình thiên tai xảy ra đồng thời. Việc phân cấp và ban bố tình trạng thiên tai theo cấp độ như hiện nay cũng cần được đánh giá lại cho phù hợp”, ông phân tích.

Ngày 21/11/2025, Ban Bí thư đã ban hành Kết luận số 213 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 42 ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai. Ban Bí thư yêu cầu, trong năm 2026 cơ bản hoàn thành việc rà soát, thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương, định hướng của Đảng thành văn bản pháp luật, cơ chế, chính sách về phòng tránh thiên tai.

Thực tế đặt ra yêu cầu phải tính toán lại cách tiếp cận, quản lý Nhà nước về phòng tránh thiên tai; Cơ chế chỉ đạo, điều hành từ trên xuống dưới phù hợp với chính quyền 2 cấp. Các hình thái thiên tai cực đoan vừa rồi là phép thử để đánh giá lại đội ngũ cán bộ cùng các kịch bản ứng phó và đưa ra phương án tối ưu. Các bộ ngành Trung ương, địa phương cần khẩn trương vẽ lại bản đồ ngập lụt, sạt lở đất, lũ quét, tổn thương do bão lũ...

Điều đặc biệt quan tâm trong phòng tránh thiên tai là kỹ năng sinh tồn của người dân. Khi xảy ra lũ lớn, sạt lở đất cô lập dài ngày, lực lượng cứu nạn chưa tiếp cận được thì người dân phải biết cách cầm cự. Kinh nghiệm thực tiễn trong nhân dân rất hay. Đơn cử như tại Cao Bằng, người dân dùng “túi sinh tồn”, trong đó đựng thuốc, nhu yếu phẩm khô, thịt hộp, cá hộp… Khi bị cô lập, bà con có thể “cầm cự” từ 3-5 ngày. Những kinh nghiệm này cần được đánh giá và nhân rộng.

Hiện nay, việc quy hoạch công trình đang bị xung đột nhau. Quy hoạch thủy lợi không tích hợp được với giao thông. Quy hoạch giao thông không tích hợp được mục tiêu là để giải quyết về vấn đề thủy lợi. Chính phủ đã đề nghị Bộ Xây dựng phải tính toán đầu tư về hạ tầng xương sống để đảm bảo tính chống chịu với các hình thái thiên tai; Đánh giá lại toàn bộ khả năng chống chịu của hạ tầng giao thông, năng lượng, viễn thông, cấp thoát nước… để đưa vào kịch bản ứng phó.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính khẳng định, các đợt mưa lũ vừa qua, đặc biệt là đợt mưa lũ lịch sử tại 4 tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa và Lâm Đồng mới đây là mưa lũ lịch sử, chưa bao giờ có. Thủ tướng đề nghị các bộ, ngành địa phương cần ghi lại, lưu trữ thành cơ sở dữ liệu về tính chất, diễn biến phức tạp để làm cơ sở xây dựng kịch bản ứng phó với thiên tai sau này. Chia sẻ với những mất mát của người dân vùng bão lũ, Thủ tướng Phạm Minh Chính phát động “Chiến dịch Quang Trung” thần tốc để xây dựng, sửa lại nhà ở cho người dân bị hư hỏng do thiên tai.

“Bão thì chúng ta chống được, lũ lụt mấy năm nay chúng ta hơi bị động, chống rất khó vì nó quá lớn, liên tục. Chúng ta phát động “Chiến dịch Quang Trung” mang tính thần tốc, táo bạo trong việc xây dựng nhà ở cho những gia đình nhà bị cuốn trôi, phá hỏng hoàn toàn. Chiến dịch Quang Trung giải quyết 2 vấn đề liên quan đến nhà ở. Một là chậm nhất trước ngày 31/1/2026 , tất cả những nhà bị sập đổ, nhà bị cuốn trôi là phải làm lại. Nhiệm vụ thứ 2, sửa chữa nhà ở bị hư hỏng thì phải xong trước ngày 31/12/2025", Thủ tướng Phạm Minh Chính chỉ rõ.

Năm nay, thiên tai cực đoan đã tàn phá nặng nề lên đất nước ta. Sau mỗi mùa mưa lũ, các cuộc họp, hội thảo khoa học diễn ra ở nhiều cấp độ. Mọi nguyên nhân đã được chỉ rõ: Rừng tự nhiên cạn kiệt, thủy điện đầu nguồn, quy hoạch đô thị hóa yếu kém, dòng sông bị bóp nghẹt, và năng lực kiểm soát lũ còn nhiều bất cập. Các giải pháp ứng phó cho sạt lở, lũ quét, bão tố...vẫn còn nguyên giá trị.

Thế nhưng, trước thảm họa ngày càng dị thường và cực đoan, tính mạng con người ở vùng dễ tổn thương vẫn quá mong manh giữa thiên tai chồng nhân tai. Khái niệm "sống chung với lũ" nay trở nên khó khăn hơn bao giờ hết.

Đã đến lúc chúng ta cần một kịch bản ứng phó đột phá, mạnh mẽ cho mọi hình thái thiên tai trong tình hình mới. Đây không chỉ là đánh giá, mà là mệnh lệnh hành động từ hôm nay để bảo vệ sinh mạng và tương lai.

Tác giả: Nhóm phóng viên VOV Miền Trung
Đồ họa: Đồng Toàn

Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.

Thứ Tư, 07:00, 03/12/2025

VOV.VN trên Google News